Trăng máu là gì? Khoảng 10 năm trước, khái niệm này bắt đầu xuất hiện phổ biến, và ngày nay rất nhiều nơi mặc nhiên ngộ nhận rằng có một hiện tượng tên gọi như vậy, và dùng nó một cách chính thức để chỉ hiện tượng nguyệt thực. Có lẽ, chẳng mấy người biết rằng việc dùng từ này không hề chính thống và nó mới chỉ xuất hiện rất gần đây.
Xuất phát từ tôn giáo
Nguồn gốc của khái niệm này tới từ Thiên Chúa Giáo, cụ thể là có một số đoạn trong Kinh thánh nhắc tới việc Mặt Trăng có thể biến thành màu máu (blood):
---
Joel 2:31:
“The sun shall be turned into darkness, and the moon into blood, before the great and terrible day of the Lord come.”
(Mặt Trời sẽ trở thành bóng tối, còn Mặt Trăng sẽ thành máu, trước ngày lớn và đáng sợ mà Chúa sẽ tới).
Revelation 6:12:
“…and, lo, there was a great earthquake; and the sun became black as sackcloth of hair, and the moon became as blood.”
(...và, kìa, có một trận động đất lớn; Mặt Trời trở nên đen như chiếc áo tang, còn Mặt Trăng trở nên (đỏ) như máu.)
(Có thể còn nữa).
---
Nhìn chung, những nơi nhắc tới việc Mặt Trăng chuyển thành màu của máu đều có hàm ý chung về việc nó báo hiệu sự biến chuyển mạnh mẽ của thế giới, mang tới những tai họa. Tuy nhiên, đích xác cụm từ "blood moon" thì không hề xuất hiện trong Kinh thánh. Tận sau này nó mới bắt đầu xuất hiện ở một vài nơi dưới dạng những bài báo hoặc văn bản không chính thức - nói cách khác, là nói vui mồm chứ không thể được coi là một thuật ngữ.
Lồng ghép với nguyệt thực
Vào năm 2008, một mục sư người Mỹ tên là Mark Biltz bắt đầu lồng ghép những ý tưởng tôn giáo nêu trên vào những "bộ tứ" nguyệt thực.
Các bộ tứ nguyệt thực này (tiếng Anh gọi là tetrad là những lần có 4 nguyệt thực toàn phần xảy ra cách đều nhau 6 tuần Trăng (6 chu kỳ pha của Mặt Trăng)). Việc này thực ra không phải quá hiếm, cụ thể là nó đã xảy ra 2 lần trong thế kỷ này (năm 2003-2004 và 2014-2015). Đối với các nhà thiên văn, việc này chẳng có gì quái gở hay đáng lưu tâm. Nguyệt thực vẫn cứ xảy ra và nếu có thời gian thì hãy cùng quan sát nó như một thú vui, chỉ đơn giản vậy.
Thế nhưng Biltz thì viết thành sách để khẳng định rằng những bộ tứ này ứng với điều mà Kinh thánh nói tới.
Niềm tin sặc mùi mê tín này được củng cố mạnh mẽ bởi mục sư khác là John Hagee. Vào năm 2013, ông này bắt đầu xuất bản sách và tham gia tuyên truyền rằng bộ tứ sẽ xảy ra vào 2 năm 2014-2015 chính là thứ khớp với điềm báo của Kinh thánh.
Nhân tiện, thêm chút thông tin là ông bạn Hagee này cũng từng tuyên bố không tin vào biến đổi khí hậu, và Nghị định thư Kyoto là trò hề được tung ra để thao túng nền kinh tế nước Mỹ.

Mark Biltz (trái) và John Hagee.
Như vậy, "Trăng máu":
- Có nguồn gốc tôn giáo (và không chính thống).
- Dùng để chỉ đích danh BỘ TỨ NGUYỆT THỰC TOÀN PHẦN, không phải là để chỉ nguyệt thực đơn lẻ, cũng không liên quan tới nguyệt thực một phần.
Sự việc cũng chẳng có gì đáng nói nếu như cánh nhà báo khắp thế giới không vồ ngay lấy cụm từ "blood moon" này để dùng nó cho nguyệt thực và dần biến nó thành thảm họa ...
Thảm họa của truyền thông và giáo dục
Ngày nay, hầu hết học sinh tới lớp của tôi đều ồ lên "Trăng máu" khi nhìn thấy bức ảnh về nguyệt thực. Mỗi khi có hiện tượng nguyệt thực diễn ra, khắp mọi tờ báo sử dụng cụm từ này để mô tả một cách mặc nhiên, ngay cả khi đó còn chẳng phải nguyệt thực toàn phần, thảm hại hơn nữa là cả với nguyệt thực nửa tối (Mặt Trăng còn chẳng biến thành màu đỏ).
Tôi gọi đó là thảm họa không phải vì việc này có thể gây hậu quả trực tiếp nào đó. Không, hoàn toàn không, bạn thích gọi cái gì với cái tên nào là tùy bạn thôi. Thảm họa là ở chỗ một cụm từ chỉ mới được viết bậy đây đó có hơn 10 năm mà đã định hình lại nhận thức của tới mấy thế hệ một cách dễ dàng tới thế. Tôi tin rằng rất nhiều thầy cô giáo dạy vật lý hoặc địa lý có lẽ cũng đang dùng khái niệm sai lệch này khi nhắc tới với học sinh mà không biết rằng nó vốn xuất phát từ những lời tuyên truyền mê tín và hoàn toàn phản khoa học của hai kẻ đi ngược lại giá trị khoa học và sự phát triển của nhân loại.
Sự phát triển của ngôn ngữ luôn diễn ra và nó cũng cần được tôn trọng, nhưng các thuật ngữ khoa học cần được bảo toàn tính chính xác và thống nhất. Người ta chỉ sửa đổi một thuật ngữ khi nó có thể gây hiểu nhầm, do qui ước mới hoặc do sự xuất hiện của các nghiên cứu có liên quan, không phải chỉ vì cái tên mới "nghe có vẻ ngầu".



